Dòng họ Phạm gốc Kính Chủ (Tiếp)

0
407

TỔNG QUAN VỀ

DÒNG HỌ PHẠM GỐC KÍNH CHỦ

Xã Phạm Mệnh, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương

(Tiếp phần trước)

HẬU DUỆ CỦA PHẠM TÔNG MẠI

1- Chi phái ở huyện Kim Thành, xã Quỳnh Khê

Cả Phả A2420 và Phả Đương Xá đều nói con cháu ông Mại gọi là chi Giáp, ở tại Quỳnh Khê. Khoảng 200 năm  sau Phạm Tông  Mại, một  hậu duệ của ông là Phạm Cao (có tài liệu viết là Phạm Hạo) dự thi tiến sĩ khoa Đinh Mùi năm Lê Hồng Đức thứ mười tám (1487), đỗ Hoàng Giáp, làm quan đến chức Thượng Thư. Chi này nổi tiếng là Chi mà khoa trường rất thịnh.

Cháu của ông Cao là Phạm Gia Mô chuyển đến  huyện Nghi Dương, xã Lê Xá, (nay là thôn Lê Xá, xã Tú Sơn, huyện Kiến Thụy Hải Phòng) đỗ tiến sĩ khoa Ất Sửu năm Đoan Khánh nguyên niên (1505), làm quan đến chức Thượng thư, tước Hoành Lễ hầu. Về sau đời nhà Mạc, ở kinh sư ông làm quan đến chức  Khai Phong Phủ, Bình chương quân quốc trọng sự, tước Hải Quốc công . Ông Mô phò tá nhà Mạc nên sau này Nhà Lê Trung hưng trả thù, phá tan phủ đệ, không biết con cháu có còn ở Lê Xá không.

2- Chi phái ở huyện Gia Phúc (nay là huyện Gia Lộc), xã Yên Luật (còn có tên xã An Tân, Trường Tân)

Phả Vân Nhưng nói con thứ 2 của Phạm Gia Mô là Phạm Trọng Tốn chuyển về An Tân, được tôn làm thủy tổ chi phái này. Cả phả A2040  và Phả Đương Xá đều nhắc đến chi phái này với 2 người nổi tiếng là Phạm Trọng Tốn và Phạm Quán Giai. Phả A2040 gọi là xã An Tân hoặc tên cũ là Trường Tân, còn Phả Đương Xá gọi là xã Yên Luật (đều ghi tên huyện là Gia Phúc): Thời Lê Cung hoàng, năm Thống nguyên thứ 1 là năm Quý Mùi 1523, ông  Tốn dự thi tiến sĩ, đỗ Nhị giáp khoa. Làm quan đến chức Cấp Sự trung. Đến năm Vĩnh Thịnh thư tám (Lê Dụ Tông -1712), Phạm Quán Giai đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức Tả Dụ đức, về trí sĩ truy tặng Tả Thị lang Binh bộ, tước Bá. Con cháu Chi này phát thịnh trong khoa trường. làm quan đến chức Thượng thư (thông tin về sự đỗ đạt của ông Tốn và ông Giai thống nhất với sách “khoa bảng VN”, trong đó ghi là nguyễn Trọng Tốn và Nguyễn Quán Giai, chắc là do được mang họ vua).

3- Chi phái ở huyện Võ Giang, xã Đương Xá ( Vạn An, Bắc Ninh)

Theo Phả A2420 thì con trai Phạm Quán Giai  từ An Tân chuyển về đây hình thành một chi phái lớn kéo dài về sau. Tuy nhiên, phả Đương Xá nói tổng quát về dòng Kính Chủ từ ông Chúc Đức, sơ lược các chi phái của dòng này, cuối cùng mới nói sâu về chi phái Đương Xá, tôn Phạm Gia Mô là cụ tổ đời thứ nhất, ghi chép tất cả 8 đời (không liên tục) nhưng không nói gì về An Tân, về Phạm Trọng Tốn, về Phạm Quán Giai cả (vì vậy phải nghi ngờ người lập ra chi phái Đương Xá có đúng là con của Phạm Quán Giai không, hay là một hậu duệ nào đó của Phạm Gia Mô?).   Chi phái Đưiơng xá có cụ tổ đời thứ 6: “ Tri phủ Trường Định, vinh phong Gia Nghị đại phu, tên húy Tố, tên hiệu Tầm Nguyên thi đỗ Giám sinh cử nhân, bổ làm Tri huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, toại nguyện ý chí lúc sinh thời. Thời vua Tự Đức, nghe được tài năng, thăng làm Tri phủ Trường Khánh”  Nguyên văn phả viết thế, không rõ ông là tri phủ Trường Khánh hay tri phủ Trường Định, hay cả 2 phủ?. Không ró ở các nơi ông làm quan có con cháu của sinh sỗng không ? Con trai ông Tầm Nguyên (là cụ tổ đời thứ 7) lấy con gái ông cử nhân Nguyễn Lâm làm quan Giám sát ngự sử ở xã Phù Khê huyện Đông Ngàn (nay thuộc  thị xã Từ Sơn). Ông này mất sớm, có 1 con trai ở quê mẹ. Ông con lớn lên lấy vợ là con gái ông Đàm Phước Nhân, người thôn Đông, xã Phù Khê, huyện Đông Ngàn, là cụ tổ đời thứ 8, sinh 4 nam, 1 nữ. “Con gái mất sớm. Con trai trưởng thành đạt. Tám tuổi theo ông học tập đầy đủ. Năm  15 tuổi, đi tìm nơi ở tốt tại xã Trung Đạo, tổng Hoa Trang, huyện Yên Định, tỉnh Hưng Yên sinh nghiệp. Vì vậy từ đường thờ cúng do em trai thứ hai lo liệu, nay là Phạm Đình Tiến vậy! Em trai thứ ba là Phạm Đình Toại. Em trai thứ tư là Phạm Đình Các. Con con, cháu cháu đều hưng vượng. Môn hạ, đệ tử của ông thành đạt, phong lưu ở Phù Khê cũng như trong xã rất nhiều”.

Phả Đương Xá chỉ chép đến đây. Không thấy phả chép về con cháu các ông này ở Phù Khê hay ở đâu nữa,  cũng chưa liên hệ được với hậu duệ dòng chính ở Đương Xá hiện nay

4- Chi phái ở An Bài (Trịnh Xá), Bình Lục, Hà Nam

Phả A 2040 có cả một phần là Phả An Bài (tục biên lần đầu năm 1844, lần 2 đến 1894) nói về con cháu họ Phạm gốc Kính Chủ, có cả hậu duệ của Phạm Gia Mô chuyển cư về An Bài (Bình Lục Hà Nam), sau đó còn chuyển đi rất nhiều nơi. Theo sách “Khoa bảng VN”, dòng họ Phạm An Bài, Bình Lục có ông Phạm Phổ (còn có tên là Phạm Lục) đỗ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Quý Mùi (1463) đời Lê Thánh Tông, sau được bổ Thái tử thị giảng, rồi chuyển võ quan là Chỉ huy sứ (ông Phạm Phổ hơn ông Phạm Gia Mô vài chục tuổi, không rõ quan hệ thế thứ ra sao nhưng chắc chắn ông Phổ không phải là “hậu duệ” của ông Mô). Theo “Toàn thư”, năm 1469, Phạm Phổ có nhờ cậy người đưa con gái vào cung để được vững quyền vị, Vua phán “ Phạm Phổ chỉ là tặc thần của nước thôi” và bãi chức. Ông Phạm Sĩ suy đán rằng có lẽ do con cháu mặc cảm “tội lỗi” này mà trong Phả không nói về Phạm Phổ mà lại nói về 1 người có tên là Phạm Chuyên (chữ Hán, chữ “Chuyên” và “ Phổ” viết gần giống nhau, Phạm Chuyên cũng đỗ tam giáp khoa Quý Mùi nhưng không nói đời vua nào) và tô vẽ cho Phạm Chuyên một lý lịch đẹp (trong “Khoa bảng VN” không có tên Phạm Chuyên). Cũng có thể do mặc cảm này mà con cháu từ An Bài Bình Lục còn đi nhiều nơi. Phả có ghi các địa danh: Hưng Thiên (hay Hưng Phu?), Thiên Bản (xã Hiền Khánh), Mỹ Lộc (xã Thành Thị)…, nhưng nổi bật nhất là Phả ghi có một công tử đi lập nghiệp tại An Bài (lấy tên quê cũ đặt cho quê mới) thuộc huyện Đông Thành (nay là xá Diễn Hùng huyện Diễn Châu) tỉnh Ngệ An, lập ra một chi phái thành đạt về sau. Con cháu Phạm Chuyên (tức Phạm Phổ) sau này theo Công giáo và đầu thế kỷ XX có ông Chất hậu công húy Kiệt, tự Tương đã đổi sang họ Nguyễn. Ông Kiệt có 2 vợ, 10 con trai lập ra 10 chi, 2 chi họ Nguyễn Đình và Nguyễn Ngọc, còn 8 chi Phạm Nguyễn. Ông Phạm Nguyễn Liêm thuộc dòng thứ 6 của Chất hậu công cùng Phạm Du đã ghép nối các phả cùa nhiều chi phái thành Phả A2420 nói trên (vì vậy Phả này không liên tục).

5- Chi phái ở An Bài, Diễn Châu, Ngệ An

Sách “Khoa Bảng VN” có ghi Phạm Chất quê An Bài, Đông Thành, Nghệ An, đỗ Hoàng Giáp khoa Nhâm Thìn (1652) đời Lê Thần Tông lúc ông 30 tuổi, đã đi sứ Nhà Thanh, được bổ Binh bộ Tả thị lang, tước Tủ, sau truy tặng Thượng Thư. Phả có ghi Phạm Chất đỗ Hoàng Giáp năm 1652 nhưng lại ghi về cha và anh của ông Chất một cách mơ hồ (tô vẽ cha của Phạm Chất là Phạm Thưởng đỗ đạt nhưng không nói năm nào, thực ra trong “Khoa bảng VN không có tên Phạm Thưởng, vẫn là để xóa cái mặc cảm về Phạm Phổ nói trên)

6. Chi phái ở huyện Giáp Sơn, xã Khinh Dao, có một người nổi tiếng là Phạm Đình Trọng (1714-1754). Năm Lê Vĩnh Hựu thứ tư, khoa Kỷ Mùi 1739, ông đã thi đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Binh bộThượng Thư, hàm Thái tử Thái phó, tước Hải Quận công. Trong một lần cầm quân đi đánh trận, ông đã về Kính Chủ viếng mộ tổ tiên và nhận là hậu duệ của Phạm Tông Mại.Ông được người sau tôn là văn võ toàn tài, được thờ làm thành hoàng tại Đình Khing Dao, là danh nhân đất HảiPhòng. Về sau con cháu của chi này nhiều đời nối tiếp văn nho. Hậu duệ hiện nay có ông Phạm Đình Thạc, Phó Chủ tịch Hội đồng họ Phạm thành phố. Hải Phòng, đt 0903202155

HẬU DUỆ CỦA PHẠM TÔNG NGỘ

1- Chi phái ở thôn Chính Trung, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, Bắc Ninh (xưa là tổng Dũng liệt, phủ Từ Sơn)

Gián đoạn khoảng 200 năm, phả Đương Xá mới ghi một hậu duệ cùa Phạm Tông Ngộ là ông Phạm Công Sơ tức Phạm Công Địch là quan Thái Bảo lánh nạn binh hỏa đến xã Châu Sơn, huyện Quế Dương, Bắc Ninh. Theo lệ cũ (từ đời Trần), ông được cấp quan điền 89 mẫu (ruộng thế nghiệp của Phạm Tông Ngộ) tại huyện An Lễ, xã Đông Lầu (sử ghi 80 mẫu). Nhân lập thôn Chính Trung xã Dũng Liệt giáp gần ruộng Đông Lâu, ông lấy hiệu là Đông Lĩnh tiên sinh. Cụ được phong chức Nghị giáo bá.  Khi cụ mất mộ phần để tại phận Đông Lâu là chỗ ở cùng nơi làm quan, con cháu chọn chiếu bạ vào hộ tịch thôn Chính Trung : giỗ kỵ ngày 5-2, mộ phần tại bãi ải đồng sau giáp đê Sông Cầu. Hiện nay họ Phạm thôn Chính Trung vẫn giữ được bản gia phả bằng chữ Hán của chi phái mình, ông Phạm Văn Tiết, Phó Chủ tịch HĐHP tỉnh Bắc Ninh, điên thoại 01634482840 là hậu duệ chi phái này đã có giới thiệu bản gia phả này.

Cụ Phạm Công Địch sinh hạ ra cụ Phạm Thiệu, đỗ tiến sĩ,  khoa Quý Sửu,  niên hiệu Cảnh Lịch 6 (1553) triều Mạc Phúc Nguyên, làm quan đến chức Thượng Thư  bộ Lễ (bộ Công?). Vâng mệnh đi sứ về lại được phong đến tước Châu Khê Hầu tặng chức Thái tuế Thiếu bảo….

Đến năm Vĩnh Thịnh thứ 2 đời Lê Dụ Tông (1706), dòng họ này sinh ra ông Phạm Đức Nhuận, làm quan đến Tổng Thái giám, Đô Thái giám, tước Thư Đình hầu, làm việc trong vương phủ có tiếng, được phong tước Thư Quận công. . Cụ đã được dựng bia Hậu thần Bi Ký được thờ tại đình làng thôn Chính Trung. Mộ phần Cụ để tại Đồng Quan, giỗ kỵ ngày 21-5.

Trong tộc nổi lên nhiều người tài giỏi. Dự thi đỗ khoa bậc lớn, ít thấy những chức nhỏ, thường thường các thời gian này Đinh tài rất thịnh (đinh là trai, tài là tài sản).

Đến ngày nay dân số dòng họ Phạm thôn Chính trung có đến gần 1000 dân, tôn  quan Thái Bảo làm Tiên Tổ. Lấy ngày 5/2 hàng năm là ngày cúng kỵ, toàn họ đến từ đường làm lễ, và đi thăm mộ Tiên tổ, thủy tổ, liệt tổ.

Bài vị thờ cúng của dòng họ thờ tại từ đường dòng họ thôn Chính Trung như sau:

Viễn Tổ : Ất Mão khoa tiến sĩ,  Hưng đạo đại vương Hải đạo tham tán quân vụ Phạm tướng Công húy Ngộ, hiệu Liễu Khê tiên sinh (Phạm Tông Ngộ).

Tiên Tổ : Phạm tướng công tặng Thiếu bảo hiệu Địch giáo bá, Đồng Lĩnh tiên sinh (Phạm Công Địch).

Thủy tổ : Quý sửu khoa đệ nhị giáp tiến sĩ, Lễ bộ thượng thư phụng bắc sứ Chính Sứ, đặc tiến Kim Tử Vĩnh Lộc đại phu. Tặng Thiếu bảo Châu Khê hầu, trụ quốc thượng giai phạm Tướng công, thụy thuần đạm, Quế Nham tiên sinh (Phạm Thiệu). Tổ tỷ Nguyễn quý thị phong tặng chính phu nhân hiệu Từ Ý.

Liệt tổ : Vương phủ thị nội lễ từ giám Thư Vệ thư đình hầu Phạm tướng công hiệu Đức Nhuận tiên sinh. Tổ tỷ hoàng úy hiệu Ngọc Hân.

2- Chi phái ở Kim Đôi, Võ Giang (nay là xã Kim Chân, thành phố Bắc Ninh)

Phả A 2420 có cả một phần gọi là phả Kim Đôi. Phả Đương Xá cũng nói rất kỹ về chi phái này. Cụ thể là: Ông Châu Khê (Phạm Thiệu) lại cưới vợ tại huyện Võ Giang, xã Kim Đôi là con gái của tiến sĩ Tả thị lang trung Khánh bá  Nguyễn Hồng Thuận, tên thụy là Từ Giáo, sinh hạ Phạm Công Nhân, theo nguyên quán của mẹ là xã Kim Đôi.Về sau, ông Nhân dự thi Hương, theo tập ấm của cha, nhận chức Trung Trinh đại phu ở huyện An Phong, tước Thuần Chánh công.

Chi phái ở Kim Đôi cũng tôn cụ Phạm Công Địch (ở Dũng Liệt) làm cụ tổ đời thứ nhất. Đời thứ 2 là Phạm Thiệu. Đời thứ 3 là Phạm Công Nhân. Vợ chánh của ông Nhân là con gái của ông Chỉ huy sứ, người xã Truyền Sơn, tên hiệu là Từ Nguyên, sinh hạ 3 nam, 1 nữ. Con gái có chồng tại trong làng, người tộc Nguyễn, là con trai ông Nguyễn Nhân Hợp, Tri huyện huyện Phụng Phục.

Một người con trai là Phạm Công Tảo (đời 4) dự thi Hương, được bổ nhiệm tạm quyền Tri huyện huyện Võ Giang, làm việc 12 năm, sau được thăng Tri phủ Quang Hưng, làm việc 19 năm. Lúc bấy giờ, có khả năng thành tài, lập danh, phàm làm quan phải lo những việc to lớn trên đời vậy! Ông tên thụy là Phụ Đức, hiệu Mô Giai. Vợ chánh hiệu Từ Tiên.

Con trai thứ 2, hàm Thái Bảo, (đời 4) lấy vợ trong làng là cháu gái của tiến sĩ  Nguyễn Lượng.

Sinh hạ Phạm Đình Châu (1647-?), đời thứ 5, đỗ tiến sĩ năm Chánh Hòa thứ 6 (Ất Sửu 1685), đời vua Lê Huy Tông, làm Thái giám ngự sử làm đến chức quan Sơn Điền xứ Lâm sát Hiển hình.

Ông con thứ 3 hiệu Công Cầm (đời 4), dự thi Hương, tạm bổ nhiệm Tri Phủ. Ông sinh hạ người con hiệu  Phước Lương (đời 5). Ông Phước Lương lấy vợ ở huyện Tiên Du, là con gái quan Tri huyện Võ Giang, hiệu Từ Minh, sinh hạ Phạm Tá (đời 6), về sau được phong tặng  Huỳnh Cung đại phu Hàn Lâm Thị giảng Tu thận thiếu duẫn Phạm tướng công, tên thụy Phước Tá.

Đời thứ 6 còn có ông Phạm Chuẩn đỗ Hương cống, chức phó Đô ngụ sử, tước Miên trạch bá,có 5 con trai (đời 7) đều đỗ đạt (ngũ tử đăng khoa).

Con cả là Phạm Đình Đạt  còn có tên là Phạm Tiến, Phạm Nguyễn Đạt (1729-1791) đỗ Hội Nguyên tiến sĩ năm 29 tuổi (Khoa Đinh Sửu1757). Ông nổi tiếng học giỏi, làm quan chính trực không sợ cường quyền, có công giúp dân. Khi đi sứ  Thanh đã giữ vững quốc thể, vua Thanh phải nể. Ngô Thì Sĩ đã có những lời ca ngợi ông.

Con thứ 2 là Phạm Hồn Phác ( Phạm Phan) đỗ Tạo sĩ, văn võ kiêm toàn,thự trấn thủ Thái Nguyên, tước hầu .

Con thứ 3 là Phạm Đình Dư thi đỗ Tiến sĩ lúc 34 tuổi (Khoa Ất Mùi 1775), thượng thư bộ Lại.

Con thứ 4 là Phạm Trấn đỗ Hương cống  (cử nhân) năm 1768, tri huyện Đông An

Con thứ 5 là Phạm Thụy, tự Mẫn Thực,  đỗ tam trường (tú tài) khoa Tâm Mão 1771.

Ông Đạt còn có 2 người cháu là Phạm Đình Quý đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Sửu 1829 lúc 25 tuổi, làm quan ở Bộ Hình, rồi được tiến cử Thượng Thu Bô Binh coi việc binh nhung quân vụ như ở 5 tỉnh, uy thanh hiển hách, người trong địa hạt đều nể sợ, và Phạm Bá Thiều đỗ Tiến sĩ năm 1832, tế tửu Quốc tử giám.

Tóm lại chi phái này có 7 tiến sĩ và nhiều người đỗ đạt khác (cử nhân, tú tài…)

*

Trên đây mới nêu tổng quan bước đầu về dòng họ Phạm gôc Kính Chủ. Thực tế là quy mô dòng họ rất lớn, lâu đời, rất nhiều chi phái mà tài liệu tuy nhiều nhưng vẫn thiếu và không liên tục. Ngoài các chi phái hậu duệ Phạm Đạo Soạn đã được nghiên cứu, chăp nối với nhau (vẫn còn cần nghiên cứu tiếp), các chi phái hậu duệ Phạm Tông Mại vẫn còn chưa kết nối lại chặt chẽ được, kể cả các chi phái hậu duệ của Phạm Gia Mô. Hậu duệ của Phạm Tông Ngộ thì mới có 2 chi phái cùng một tiên tổ là Phạm Thiệu nhưng cũng chưa liên kết chặt chẽ với nhau. HĐTQ họ Phạm VN chưa có điều kiện liên hệ với các chi phái dòng Kính Chủ, ngay các vị hậu duệ các chi phái này (Phạm Văn Quế, Phạm ĐìnhThạc, Phạm Văn Thiết) cũng chưa liên hệ với nhau. Mỗi chi phái nêu trong bài này lại chia ra nhiều các chi nhánh khác, đòi hỏi nhiều công phu nghiên cứu lắm, nhiều bài nghiên cứu riêng từng chi nhánh mới đầy đủ được.

Phạm Văn Dương