VĂN CHƯƠNG HÁN NÔM TRONG “PHẠM TỔ LINH TỪ” (Tiếp theo)

0
960

Bài 6

CHÁNH TẨM

Biên dịch: Phạm Thúc Hồng

Trình bày: Phạm THế Chiến

Chánh tẩm là nơi thờ được bố trí sâu về phía sau để tăng thêm sự trang trọng, hạn chế việc tiếp xúc với người thường. Chánh tẩm còn gọi là hậu điện hoặc hậu tẩm.

Cách bố trí thờ Đô Hồ đại vương Phạm Tu tại chính tẩm/hậu tẩm/hậu điện biểu thị sự tôn trọng giống như nơi làm việc của nhà vua.

I/CỬA VÀO CHÁNH TẨM

Tại Đình Ngoại “Phạm Tổ linh từ”, chánh tẩm đuợc nối kết bái đường bởi ba gian cửa. Mỗi cửa gồm 4 cánh cửa theo kết cấu cổ thuợng đà, hạ ngạch.

-Gian cửa giữa gồm có 4 ánh cửa thuờng xuyên đóng tạo nên phông nền cho bàn thờ gian chính giữa bái đường. Vì vậy, Gian Giữa không có lối vào chánh tấm.

-Hai gian Tả, Hữu mở cửa rất hẹp, tạo thành 2 ngõ vào nội thất chánh tẩm, nhưng đuợc chắn ngang bằng hai cái bàn nhằm nhắc nhở khách thập phương kính cẩn và hạn chế vào trong chánh tẩm.

 Ta monĐường vào chánh tẩm (phía Gian Tả/Trái)

 

   Huu monĐường vào chánh tẩm (phía Gian Hữu/Phải)

Phía trên cửa vào phía Tả/Trái có treo cuốn thư ghi bài thơ tứ ngôn (thơ 4 chữ), cước vận “ân”:

 

Ct0
Cuốn thư cước vận “ân”

維 嶽 降 神
護 國 萬 春
英 靈 顯 赫
福 及 其 民

Duy nhạc giáng thần
Hộ quốc vạn xuân
Anh linh hiển hách
Phước cập kỳ dân

Núi cao hiện thần
Giúp nước vạn năm
Linh thiêng sáng tỏ
Phước đến với dân

 

Ct01

Phía trên cửa vào phía Hữu/Phải có treo cuốn thư ghi bài thơ tứ ngôn (thơ 4 chữ), cước vận “iêt”

 Cuốn thư cuớc vận “iêt”

邑 名 光 烈
毓 鍾 俊 傑
廟 殿 崇 修
香 火 不 絕

Ấp danh Quang Liệt
Dục chung tuấn kiệt
Miếu điện sùng tu
Hương hỏa bất tuyệt

Ấp tên Quang Liệt
Tụ họp tuấn kiệt
Miếu thờ trùng tu
Khói hương chẳng tuyệt

 

II/BA GIAN THỜ TẠI CHÁNH TẨM

Nội thất chánh tẩm bố trí 3 gian thờ. Gian Giữa thờ tượng ngài Pham Tu. Gian Phải thờ tượng “Hữu Võ ban” ; gian Trái thờ tượng “Tả Văn ban”

Việc bố trí bàn thờ tại Đình Ngoại theo đúng điển tự. Triều đình phong kiến đề cao văn trị nên xếp ưu liệt: “Tả Văn ban” rối mới đến “Hữu Võ ban”.

Sự xuất hiện các tuợng thờ chất liệu gỗ tại chánh tẩm đuợc ghi lại bằng văn bia.

 Trích: Văn bia tại Nhà Bia phia Tả/Trái

Ct02

Đó là, vào năm Mậu Dần 1998, xã Thanh Liệt tạc tượng gỗ để thờ Đại vương và hai ban Văn, Võ, phiên âm như sau:

Niên đại Mậu Dần 1998, tạc tượng mộc dĩ phụng tự Đại vương cập văn võ ban.

Dịch nghĩa:

Năm Mậu Dần 1998, tạc tượng gỗ để thờ Đại vương và hai ban văn võ.

Ba gian thờ trong chánh tẩm

Ctam1

 

Gian thờ chính giữa

 Gian thờ Tả văn ban

 Gian thờ Hữu võ ban

III/ VĂN CHƯƠNG HÁN NÔM TẠI CHÁNH TẨM

Chánh tẩm treo 1 câu đối do ông Tri huyện Nam Xương phụng cúng vào năm 1890 như sau:

 Cta1

Câu liễn trong chánh tẩm

勝 地 盡 鍾 清 秀 氣
方 民 全 仗 烈 光 休
成 泰 庚 寅 年 春 仲 翰 林 檢 討 原 南 昌 縣 知 縣 鄧 桂 拜 酬

Thắng địa tận chung thanh tú khí
Phương dân toàn trượng liệt quang hưu

Đất  đẹp tụ về hơi khí tốt
Dân làng nhờ đến nắng màu tươi

Thành Thái Canh Dần niên 1890, xuân trọng
Hàn lâm kiểm thảo, nguyên Nam Xương huyện , Tri huyện Đặng Quế, bái thù

Chánh tẩm tạo nên không gian nghệ thuật cổ điển với nhiều tranh vẽ, thơ chữ Hán. Không thể biên dịch tất cả, xin trân trọng giới thiệu 2 bức tranh lớn, vẽ hình tượng ngài Phạm Tu.

 Bức tranh ngài Phạm Tu đang xung trận

TTa

Bức tranh treo tại Tả Văn ban vẽ hình tượng ngài Phạm Tu trên mình ngựa đang xung trận, ghi câu đối chữ Hán sau:

范 家 生 良 將 英 傑 協 名 及 聖 及 神 功 第 一
李 帝 止 盛 代 萬 春 遵  國 稱 王 稱 伯 世 無雙

Phạm gia sinh lương tướng, anh kiệt hiệp danh, cập thánh cập thần, công đệ nhất
Lý đế chỉ thịnh đại, Vạn Xuân tuân quốc, xưng vương xưng bá, thế vô song

Họ Phạm sinh tướng tài, anh kiệt tên vang, như Thánh như Thần, công có một
Vua Lý lo thịnh đời, Vạn Xuân nuớc lớn, xưng Vuơng xưng Bá, đời chẳng hai

 

Bức tranh ngài Phạm Tu qua các thời kỳ

 Th

Bức tranh treo tại Hữu Văn ban vẽ hình tượng ngài Phạm Tu qua các thời kỳ, ghi câu đối chữ Hán sau:

清 邑 事 神 一 心 奉 請 蒙 扶 助
范 公 著 跡 萬 世 留 恩 必 盛 昌

Thanh ấp sự thần, nhất tâm phụng thỉnh mông phù trợ
Phạm công trước tích, vạn thế lưu ân tất thịnh xương

Áp Thanh Liệt thờ thần, phụng thỉnh một lòng mong phù trợ
Ông họ Phạm ghi dấu,  lưu lại ngàn năm tất thịnh hưng

 

Còn tiếp……….

Bài 7: THỌ ĐƯỜNG