VĂN CHƯƠNG HÁN NÔM TRONG “PHẠM TỔ LINH TỪ”

0
222

Bia 1BBT: Vừa qua, trong dịp về dự Hội nghị lần thứ 4 HĐTQ HPVN – Khóa VI, ông Phạm Thúc Hồng – UV HĐHP Quảng Nam – Đà Nẵng, UV Ban Tộc Phả – Kết nối dòng họ của HĐTQHPVN đã dành một ngày vào Đình Ngoại, dâng hương bái Thượng Thủy tổ và nghiên cứu rất cẩn thận ngôi Đình, từ Tiền môn, Tả Hữu vu, nhà Văn bia, Bái đường, Chánh tẩm, Thọ đường, Ban thờ Thổ thần…Ông đã biên dịch thành cuốn Văn chương Hán – Nôm trong Phạm Tổ Linh Từ,  sẽ phát hành rộng rãi trong họ và khách thập phương tới Đình vãn cảnh, dâng hươg.

Tác giả lại soạn thành nhiều bài, được ông Phạm Thế Chiến trình bày bằng hình ảnh minh họa. Báo hophamvietnam sẽ lần lượt đăng từng bài để bạn đọc hiểu rõ khi về Phạm Tổ Linh Từ vãn cảnh và dâng hương lễ Thượng Thủy tổ.

–♦

VĂN CHƯƠNG HÁN NÔM TRONG “PHẠM TỔ LINH TỪ”

(tại xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội)

Biên dịch: Phạm Thúc Hồng
Trình bày: Phạm Thế Chiến

PTLT

Bài thứ 1

TOÀN CẢNH PHẠM TỔ LINH TỪ

VÀ TIỀN MÔN

TOÀN CẢNH

Đình thờ Đô Hồ đại vương Phạm Tu (476- 545) sừng sững, trầm tư giữa đất trời xã Thanh Liệt (thủ đô Hà Nội), hai mùa tế tự Xuân Thu, hương đưa, trống vọng, minh chứng một vùng địa linh nhân kiệt, một vùng cư dân cựu địa lâu đời, hiền hòa, thịnh vượng. Di sản văn chương Hán Nôm như một nhân chứng truyền tải thông điệp bi hùng về Đô Hồ Đại Vương – Thượng Thủy tổ Phạm Tu! 

Được kính viếng “Phạm Tổ linh từ”, lòng người tràn dâng sự giao hòa tương thông giữa thần linh – con người – thiên nhiên trong lòng Thủ đô, dù có thấm rét giữa mùa Đông nhưng vẫn ấm lòng!…

 

Đình Ngoại kiến trúc liên hoàn tuần tự ẩn hiện gồm:

– Tiền môn

– Nhà Văn bia

– Tả vu, Hữu vu (Nhà Đông, Nhà Tây)

– Bái đường

– Chánh tẩm

– Thọ đường

– Bàn lộ thiên thờ Thổ thần, v.v…

MB2

TIỀN MÔN

Tiền môn uy nghiêm, kiến trúc liên hoàn gồm trụ biểu, cổng cổ lầu, họa tiết, đại tự đắp nổi, tạo nên dáng cách tam quan truyền thống (ảnh dưới).

Bước vào nội đình phải qua cổng chính được giới hạn bởi hai trụ biểu cao ngất, hai bên cổng chính thiết trí hai cổng Tả, Hữu đối xứng theo kết cấu cổ lầu.

(Vị trí truyền thống: “Tả /Trái và Hữu/Phải” theo hướng đình, không theo hướng của người nhìn).

♦ Thân cổ lầu (ảnh dưới) được chạm khắc chữ Hán như nhắc nhở tín chủ hoặc du khách khi bước vào nơi miếu tự trang nghiêm phải chỉnh đốn tâm thân cho thích hợp:

左   宜
Tả nghi
Thích hợp bên Trái

右   宜
Hữu nghi
Thích hợp bên Phải

MT31

♦ Hai trụ biểu  (ảnh trên) với 3 cặp câu đối bằng chữ Hán như dán chặt vào nền trời xã Thanh Liệt.

• Câu đối ở mặt trước

Giọng văn hùng hồn như kéo lòng người tự hào vẫy vùng cùng “Việt địa” với “Nam sơn” :

萬 古 英 灵 昭 越 地
千 秋 顯 赫 對 南 山

Vạn cổ anh linh chiêu Việt địa
Thiên thu hiển hách đối Nam sơn

Vạn thuở thiêng liêng cùng đất Việt
Ngàn năm rạng rỡ với núi Nam

• Câu đối hai bên

特 地 功 成 瞻 者 敬
擎 千 位 列 仰 弥 高

Đặc địa công thành chiêm giả kính
Kình thiên vị liệt ngưỡng di cao

Mở đất thành công nhìn phải kính
Chống trời oanh liệt ngước nên  cao

• Câu đối ở mặt trong (ảnh dưới)

Trên đất nước mà Thần và Người đã cộng cư tạo nên sự cảm ứng, trong đó Thần và Thánh trở thành lực lượng siêu nhiên, luôn chiếu cố tứ ban phước huệ cho lê dân, bá tánh:

國 泰 民 安 思 聖 德
人 康 物 阜 賴 神 庥

 Quốc thái dân an tư thánh đức
Nhân khang vật phụ lại thần hưu

Nước mạnh dân yên nhờ đức thánh
Vật giàu người mạnh dựa ơn thần

Cong-

 Còn nữa………….