VỀ DÒNG HỌ PHẠM NGŨ LÃO GỐC PHÙ ỦNG, HUYỆN ĐƯỜNG HÀO, HẢI DƯƠNG, NAY THUỘC ÂN THI, HƯNG YÊN

0
692

 

Thân thế và sự nghiệp của Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320)

Theo tư liệu của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ :.

Phạm Tộc Thế Phổ “ ghi: Phạm Ngũ Lão là hâu duệ Phạm Hạp. Phạm Hạp khi xư­­­a làm Tả T­­ư­­ớng tham m­­ư­u có công phá Thập Nhị Sứ quân, đ­­ược Đinh Tiên hoàng phong làm Kỳ Hầu Hoan Châu Thứ sử. Năm 981, do chống lại Lê Hoàn và bị Lê Hoàn bắt sống, ông tự tử, con cháu mới thiên cư­­­­ lên đất Thư­­­­ợng Hồng Châu, qua đư­­­ợc 7 đời nữa thì sinh ra Phạm Ngũ Lão. Chi tiết này có thể tin cậy vì Phạm Hạp bị triều Tiền Lê coi là làm phản, con cháu phải trốn tránh, thế mà họ vẫn ghi vào gia phả một cách trung thực, không phải là “thấy người sang bắt quàng làm họ”

Phạm Ngũ Lão sinh năm Ất Mão (1255), quê làng Phù Ủng, huyện Đư­­ờng Hào, Hải D­­ư­­ơng. Phạm Ngũ Lão theo Hưng Đạo vương, có công trong 2 lần đánh quân Nguyên Mông 1285, 1288. Sau này, Phạm Ngũ Lão trở thành Danh tư­ớng thời các vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông. Ông th­ường đồng cam cộng khổ cùng binh sĩ, đánh đâu thắng đó: ba lần chiến thắng bảo vệ biên giới phía tây của Tổ quốc (1294, 1297, 1301), một lần dẹp loạn nghịch thần (1302), và một lần bình Cham – pa cư­ớp phá phía nam (1318). Ông là một Danh nhân văn võ kiêm toàn, đư­ợc Hư­ng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tin cậy, gả con gái cư­ng cho ông. Ông đư­ợc thư­ởng Ngũ Phù (Kim Phù, Vân Phù, Qui Phù, Hổ Phù và Phi Ngư­ Phù). Đó là điều hiếm thấy trong lịch sử các triều đại phong kiến nư­ớc ta. Ông lần lượt đư­ợc phong giữ các chức vụ: Hữu Kim Ngô Vệ Đại T­ướng Quân, Thân Vệ Đại T­ướng Quân và Điện Soái Thư­ợng Tư­ớng Quân, tư­ớc Quan nội hầu.

Đời Trần Minh Tông năm thứ 7 (1320), Phạm Ngũ Lão mất, thọ 66 tuổi. Khi đư­­­­a tin về triều, vua bãi chầu năm ngày để tỏ lòng th­ư­­­ơng tiếc.

 

Các hậu duệ của Phạm Ngũ Lão

Hiện ở quê gôc Phù Ủng không có hậu duệ của Người. Chúng tôi được biết đã biết có khảng 30 dòng họ Phạm ở khắp đất nước Việt Nam tự nhận mình là thuộc dòng dõi của Trần triều Điện soái Phạm Ngũ Lão. Phần lớn các dòng họ này đều căn cứ vào truyền ngôn của người xưa trong khi tại các kho sử liệu quốc gia và tại chính nơi phát tích của Người (Phù ủng, Ân Thi, Hưng Yên) lại không có tài liệu nào ghi lại điều đó nên không thể xác minh được. Một số dòng họ còn giữ được Gia phả xa xưa của dòng họ mình ghi lại, độ tin cậy cao hơn.

Chúng tôi xin thống kê các dòng họ nhận là Hậu duệ của Phạm Điện soái. Một số dòng họ này có bài giới thiệu riêng (đánh dấu * ). Cụ thể như sau:

Họ Phạm Đông Thọ, Phù Ủng ra Hà Nội, gia phả đã mất, chỉ biết hồi đầu thế kỷ XX có cụ hậu duệ đời thứ 21 của Phạm Ngũ Lão từng là chủ tế những ngày húy kỵ ở Phù Ủng bái vọng sở tại Nam Định và Phù Ủng vọng từ tại Hà Nội (cụ này sinh năm 1869, mất năm 1938, là ông nội của PGs Ts Phạm Hồng, TTK Ban Liên lạc họ Phạm VN Khóa III).

Một chi họ gôc làng Phù Ủng di cư về Thạch Lỗi rồi về phố Hàng Giấy Nam Định nay là phố Hoàng Văn Thụ  từ thời Trịnh – Mạc, có nhạc sĩ Phạm Đình Sáu.

Các dòng họ Phạm ở Đào Quạt, xã Tô Hiệu Ân Thi Hưng  Yên (*) có viện sĩ Phạm Huy Thông, họ Phạm ở Hoa Đường (Lương Đường), Bình Giang (*) là các làng gần sát với Phù Ủng, không rõ có cùng dòng họ của Phạm Ngũ Lão hay không.

Dòng họ Phạm Linh Kiệt và các chi ở nhiều xã thuộc huyện Diễn Châu và xã Nam Sơn Đô Lương Nghệ An có  tiên tổ là Phạm Thập sinh cuối thế kỷ XIV. Theo sách Phạm Điện Soái tôn thần sự tích của Giám khảo trường thi Nam Định Trần Thứ viết năm Kỳ dậu 1849 thì Phạm Ngũ Lão có bà thứ thất Thủy tinh phu nhân là con nhà ngư dân vùng này. Có thể cụ Phạm Thập là con bà này.

Đặc biệt, một số dòng họ Phạm ở Quảng Nam, Quảng Ngãi còn gia phả ghi rõ là hậu duệ của Phạm Nhữ Dực, Phạm Nhữ Tăng.

Gia phả dòng họ Phạm thôn Hương Quế, xã Quế Phú Quế Sơn Quảng Nam chép : Phạm Ngũ Lão  có 5 ng­­­­ười con trai, nh­ư­­­ng chỉ thấy nói đến ng­ư­­­ời con thứ 5 là Phạm Nhữ Dực, sau rời sang ở xã Lỗi Huyền, phủ Thiệu Thiên, huyện Lôi D­­­­ương (nay là Thọ Xuân) tỉnh Thanh Hoá.

Từ đư­­ờng họ Phạm đã bị binh hoả đốt phá, Đến đời Nguyễn Gia Long, có ông Đằng Văn Hầu và Phong Lộc Hầu cúng bạc dựng lại.

Phạm Nhữ Dực có công đem binh trừ Chế chúa lấy đư­ợc Đại Chiêm và Cổ Luỹ (năm 1400, Hồ Quý Ly  đổi làm Thăng Ba Lộ).

Năm Tân Tỵ (1401), Phạm Nhữ Dực nhận chiếu chỉ của Hồ Hán Thư­­­ơng (niên hiệu Thiệu Thành 2) phong ông làm Chánh đô Ân vũ sứ, phụ trách việc di dân vào đất mới chiếm (Cổ Luỹ, Quảng Ngãi). Lúc nhà Minh xâm chiếm nư­­­­ớc ta đem quân vây Thăng Ba Lộ, ông phải chạy ra An Trư­­­­ờng phía Bắc Quảng Nam, tức mạn bắc sông Thu Bồn, nay thuộc huyện Điện Bàn.

Phạm Nhữ Dực trấn tại Quảng Nam. Ông sinh hai ngư­­­ời con: trư­­­ởng là Phạm Đức Đề, Phạm Đức Đối là con thứ, ông này sau ở lại Đông Tràm, tư­­­ớc phong Kim trì thuỷ bộ thống xuất ch­ư­­ dinh Thư­­­ợng tư­­­ớng quân Đô chỉ huy quân vụ. Con cháu Đồng Tràm đông đảo, trên dư­­­ới là 18 đời đến nay.

Phạm Đức Đề, t­ư­­ớc Đình Th­ư­­ợng Hầu, cũng như­­­ ngư­­­ời em, ông định c­­ư­ tại làng Đồng Tràm, tổng Xuân Phú, huyện Quế Sơn. Khi quân Minh xâm chiếm n­­­ước ta, đem quân vào Thăng Ba Lộ, ông phải bỏ chạy ra An Trư­­­ờng mạn bắc Quảng Nam (phía Bắc sông Thu Bồn nay thuộc huyện Điện Bàn).

Phạm Nhữ Dự là con Đình Thư­­­ơng hầu Phạm Đức Đề và là cháu nội Dực Nghĩa Hầu. Sinh một con trai là Phạm Nhữ Tăng và một gái là Phạm Thị Trào.

Phạm Nhữ Tăng thi đậu Điện Hoằng Từ khoa, vào triều vua Lê Nhân Tông (1433 – 1459), sau được phong Quảng Dương hầu.Triều Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 2 (1471) được phong Trung quân Đô thống thừ tuyên Quảng Nam, lãnh chiếu di dân Nam tiến. Khi ông mất, thi hài đưa về Hương Quế, nay lăng mộ vẫn còn. Ông sinh đ­ược ba người con trai trai.

Con trưởng là Ngọc Thành Hầu Phạm Nhữ Ngọc.

Con thứ hai là Cai Phủ Thanh Công Hầu Phạm Nhữ Trư­­­­ờng,

Con thứ ba là Cai Huyện Giới Nghiêm Hầu Phạm Nhữ Đa.

Ba ng­ư­­­ời con trai Phạm Nhữ Ngọc, Phạm Nhữ Trường và Phạm Nhữ Đa đã phát triển thành ba chi họ Phạm ở H­ư­­­ơng Quế, ở thôn Đồng Tràm xã Bình Phục huyện Tan Thăng Quảng Nam và từ đó lan toả khắp tỉnh Quảng Nam và trong cả n­ư­­ớc. Phải chăng H­­ư­­ơng Quế – Đồng Trầm là cái nôi, cái gốc lớn của họ Phạm ở phía Nam mà khởi nguồn từ Đức Khởi Thuỷ tổ Phạm Ngũ Lão ở miền Bắc?

 Phần  giới thiệu trên đây là căn cứ vào cuốn “ Dõi tìm tông tích người xư­a “của cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ và bản tóm tắt Gia phả họ Phạm H­ương Quế – Đồng Tràm, Quảng Nam.

Gia phả Dòng họ Phạm Công ở Mộ Đức, Quảng Ngãi (*) lại chép: triệu tổ của họ là Phạm Nhữ Tăng (1422 – 1478) là cháu 7 đời của Phạm Ngũ Lão, cháu 4 đời của Phạm Nhữ Dực. Về quan hệ Phạm Nhữ Tăng với Phạm Nhữ Dực thì thống nhất với phả Hương Quế – Đồng Tràm, nhưng quan hệ Phạm Nhữ Dực với Phạm Ngũ Lão thì khác nhau. Phả hương quế nói Phạm Nhữ Dực là con Phạm Ngũ Lão có sự không phù hợp về tuổi tác. Vì Phạm Ngũ Lão mất năm 1320 là chính xác nên phải ép năm sinh của Phạm Nhữ Dực muộn nhất là khoảng 1320, thành thử các năm 1400, 1401, ông đã ngoài 80 tuổi còn đánh đông dẹp Bắc, lập bao công trạng và được phong là Dực Nghĩa hầu, và khi ông mất năm 1409 đã 90 tuổi! Nếu theo phả Mộ Đức thì Phạm Nhữ Dực là chắt của Phạm Ngũ Lão, và có tài liệu của bà con Đà Nẵng nói Phạm Nhữ Dực sinh năm 1342, thọ 68 tuổi, có lẽ hợp lý hơn. Theo phả  Mộ Đức thì con đầu của Phạm Nhữ Tăng là Phạm Bá Tôn (trong khi phả Hương Quế nói là Phạm Đức Đề). Cháu 5 đời của Phạm Bá Tôn là Phạm Công Hiều lập nghiệp tại Mộ Đức vào thời Lê Thế tông (1573 – 1600) và lập ra dòng họ Phạm Công ở Mộ Đức. Gia phả dòng họ này còn kể tên 10 vị võ tướng văn quan của dòng họ phục vụ nhà Tây Sơn, trong đó có Phạm Văn Trị (người đóng giả vua Quang Trung sang nhà Thanh) và ghi Thủ tướng Phạm Văn Đồng thuộc đời thứ 15 tính từ Phạm Công Hiều (ở Thi Phổ, Đức Tân Mộ Đức). Liên quan đến Phạm Văn Trị còn có dòng họ Phạm ở An Kỳ xã Tịnh Kỳ Sơn Tịnh Quảng Ngãi (*) và dòng họ này lại liên quan đến dòng họ Phạm Đăng ở Gò Công, Bến Tre (*) có Phạm Đăng Hưng, phụ thân của Thái hậu Từ Dũ Phạm Thị Hằng.

Dòng họ làng Tía (*) nay là làng Tử Dương xã Tô Hiệu Thường Tín Hà Nội chỉ còn gia phả từ giưa thế kỷ XIX cũng nhận là gốc từ Phạm Nhữ Tăng.

Ở Quảng Nam, Đà Nẵng còn nhiều dòng họ Phạm nhận là hậu duệ Phạm Ngũ Lão nhưng chưa rõ tài liệu cụ thể, gồm: Họ Phạm thôn Phước Hưng xã Hòa Nhơn hòa Vang, thôn Trà Lộ xã Hòa Hải Ngũ Hành Sơn, họ Phạm Nhữ phường Mân Tái Sơn Trà, họ Phạm Hà Thanh Xã Điện Hòa Điện Bàn, Thôn Long Hội xã Điện Thọ Điện Bàn, thôn Cẩm Vân xã Điện Hồng Điện Bàn, thôn Cẩm sa xã Điện nam Điện Bàn…

Ở miền Bắc, các dòng họ Phạm nhận là hậu duệ Phạm Điện soái nhưng chưa rõ tài liệu cụ thể gồm: thôn Trà Vy xã Vũ Công Kiến Xương Thái Bình ( có thỂ 4 còn 3 thôn Vy nữa là Lại Vy Kiến Xương, Hữu Vy Tiền Hải, Thuận Vy Vũ Thư), thôn Lịch Bài xã Vũ Hòa, Kiến Xương, Thái Bình,Thôn Phú Lễ xã Tự Tân Vũ Thư TB, thôn Xuân Bản xã Xuân Dục Mỹ Hào Hưng Yên, thôn Phạm Xá xã Đồng Than Yên Mỹ HY, họ Phạm Đăng xã Giai Phạm Yên Mỹ HY, phường Tứ Liên Tây Hồ, làng Chuông xã Phương Trung Thanh Oai HN, thôn Hạ Lan xã Hải Phúc Hải Hậu Nam Định, thôn Châu Khê xã Thúc Kháng Bình Giang Hải Dương, xã Quỳnh Bá Quỳnh Lưu Nghệ An,…

Trên đây mới nêu tổng quan về dòng họ Phạm Ngũ Lão. Một số dòng họ có bài giới thiệu riêng, một  số dòng họ khác còn cần nghiên cứu thêm để có hiểu biết cụ thể hơn./.

Phạm Hồng – Phạm Văn Dương

***